36-M.DI

Ứng dụng

36-M.DI

Admin - 28/11/2025 09:37 PM

    Quẻ Kinh Dịch: ĐỊA HỎA MINH DI

    Bạn đang xem Bảng Quẻ Dịch ĐỊA HỎA MINH DI (36) chuyên sâu từ Phong Thuỷ Trần Khương, bao gồm dữ liệu về Lục Thân, hình thái Âm Dương, Địa Chi mỗi Hào, Ý nghĩa rút gọn của Quẻ ĐỊA HỎA MINH DIMinh di là ánh sáng tối tăm. Quẻ thuộc Họ Khảm - Ngũ Hành Thủy.

    Tên quẻ Hào Âm Dương Hình quẻ Lục thân Địa chi

    ĐỊA HỎA MINH DI

    36

    6 Âm Hình quẻ Phụ Mẫu Dậu (Kim)
    5 Âm Hình quẻ Huynh Đệ Hợi (Thủy)
    4 Âm Hình quẻ Quan Quỷ - THẾ Sửu (Thổ)
    3 Dương
    Hình quẻ

     

    Huynh Đệ Hợi (Thủy)
    2 Âm Hình quẻ Quan Quỷ Sửu (Thổ)
    1 Dương
    Hình quẻ

     

    Tử Tôn - ỨNG Mão (Mộc)
    Ý nghĩa quẻ: Minh di là ánh sáng tối tăm.

    → Quay lại Bảng: Tổng Hợp 64 Quẻ Dịch

    QUẺ SỐ 36: ĐỊA HỎA MINH DI - QUÁ GIANG CHIẾT KIỀU

    1. Quẻ Địa Hỏa Minh Di trong Kinh Dịch

    Tổng quan quẻ Địa Hỏa Minh Di

    Quẻ Địa Hỏa Minh Di

    Quẻ Địa Hỏa Minh Di hay được gọi là Quẻ Minh Di, là quẻ số 36 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Hung.

    Ngoại quái: ☷ Khôn (坤) - Địa (地) tức Đất - Ngũ hành Thổ.

    Nội quái: ☲ Ly (離) - Hỏa (火) tức Hỏa - Ngũ hành Hỏa.

    Thuộc nhóm tượng quái Khảm (Quẻ Du Hồn), Ngũ hành Thủy.

    Quẻ Minh Di thể hiện tình thế bất lợi, khó đương đầu với những khó khăn trở ngại. Đó là sự vùi lấp tài trí dưới một chính sách mê muội. Muốn tránh Di thì dùng đức tính sáng suốt (Ly) và nhu thuận (Khôn) mới trốn khỏi nơi ô uế được.

    Thoán từ:

    Lời kinh: 明夷利艱貞.

    Dịch âm: Minh di lợi gian trinh.

    Dịch nghĩa: Ánh sáng bị tổn hại, chịu gian nan, giữ điều chính thì lợi.

    Minh Di: Thương dã. Hại đau. Thương tích, bệnh hoạn, buồn lo, đau lòng, ánh sáng bị tổn thương. Kinh cức mãn đồ chi tượng: gai góc đầy đường.
    Tiến lên thì tất có lúc bị thương tổn, cho nên sau quẻ Tấn tiếp tới Minh di. Di [夷] nghĩa là thương tổn.

    Tượng quẻ:

    Minh nhập địa trung (Mặt trời lặn vào trong đất)

    Ngoại quái Khôn, nội quái Ly là mặt trời lặn xuống những ánh sáng mặt trời bị che lấp, tượng trưng cho những người tài phải biết cách giấu tài mới mong thoát được nạn.

    Quẻ này ngược với quẻ Tấn ở trên; mặt trời (ly) lặn xuống dưới đất (Khôn) ánh sáng bị tổn hại, tối đi (Minh di).
    Người quân tử ở thời u ám này, gặp nhiều gian nan, chỉ có cách giữ đức chính trinh của mình thì mới có lợi. Muốn vậy thì ở trong lòng giữ đức sáng mà ở ngoài thì nhu thuận để chống với hoạn nạn như tượng của quẻ Ly là sáng văn minh ở nội quái, Khôn là nhu thuận ở ngoại quái. Vua Văn Vương bị vua Trụ nghi ngờ, giam vào ngọc Dữu Lý, tỏ vẻ rất nhu thuận, không chống đối Trụ, mà để hết tâm trí vào việc viết Thoán từ giảng các quẻ trong Kinh Dịch, nhờ vậy Trụ không có cớ gì để giết, sau thả ông ra.
    Không những ở ngoài phải tỏ vẻ nhu thuận, mà có khi còn nên giấu sự sáng suốt của mình đi nữa mà trong lòng vẫn giữ chí hướng, như Cơ tử một hoàng thân của Trụ. Trụ vô đạo, Cơ Tử can không được, giả điên, làm nô lệ, để khỏi bị giết, mong có cơ hội tái tạo lại nhà Ân; khi nhà Ân mất, ông không chết với Trụ, cũng không bỏ nước ra đi. Võ vương – con Văn Vương – diệt Trụ rồi, trọng tư cách Cơ Tử, mời ra giúp nước, ông không chịu; sau Võ vương cho ra ở Triều Tiên, lập một nước riêng. Như vậy là Cơ Tử giấu sự sáng suốt của mình để giữ vững chí, không làm mất dòng dõi nhà Ân (Hối kì minh, nội nạn nhi năng chính kì chí – Thoán truyện).
    Đại tượng truyện bảo quân tử gặp thời Minh di, muốn thống ngự quần chúng nên dùng cách kín đáo mà lại thấy được rõ (dụng hối nhi minh), nghĩa là dùng thủ đoạn làm ngơ cho kẻ tiểu nhân , đừng rạch ròi, nghiêm khắc quá mà sẽ bị hại, tóm lại là làm bộ như không biết để chúng không nghi ngờ mình và để lộ hết dụng tâm của chúng ra mà mình sẽ biết được. Cơ hồ tác giả Đại tượng truyện muốn dùng thuật của Hàn Phi.

    Các hào trong quẻ:

    1. Sơ Cửu (Hào 1 dương):

    Lời kinh: 初 九: 明夷, 于飛 垂其翼.君子于行, 三日不食, 有攸往, 主人有言.

    Dịch âm: Minh di, vu phi thùy kì dực. Quân tử vu hành, tam nhật bất thực, hữu du vãng, chủ nhân hữu ngôn.

    Dịch nghĩa: Ở thời u ám (ánh sáng bị tổn hại), hào này như con chim muốn bay mà cánh rũ xuống. Người quân tử biết thời cơ thì bỏ đi ngay, dù (không có tiền) phải nhịn đói ba ngày, mà đi tới đâu, gặp chủ cũ, cũng bị chủ cũ chê trách.

    Giảng nghĩa: Hào dương ở đầu thời Minh di, là người quân tử gặp thời hắc ám, có thể bị hại như con chim rũ cánh xuống. Cách xử thế là nên bỏ đi ngay, như Phạm Lãi bỏ nước Việt vì biết vua Việt là Câu Tiễn sẽ nghi ngờ mà hại các công thần, nhờ vậy tránh được cái hoạ bị giết như đại phu Chủng.

    2. Lục Nhị (Hào 2 âm):

    Lời kinh: 六 二: 明夷, 夷于左股, 用拯馬壯, 吉.

    Dịch âm: Minh di, di vu tả cổ, dụng chửng mã tráng, cát.

    Dịch nghĩa: Ở thời ánh sáng bị tổn hại, hào này như bị đau ở đùi bên trái, nhưng cũng mau khỏi, sẽ như con ngựa mạnh mẽ tiến lên, tốt.

    Giảng nghĩa: Hào này làm chủ nội quái Ly (sáng suốt), đắc trung, đắc chính , là bậc quân tử có tài, nhưng ở thời Minh di, hôn ám nên bị tiểu nhân làm hại ít nhiều, như bị thương ở đùi bên trái, nhưng rồi sẽ mau khỏi (dụng chửng), mà như con ngựa mạnh mẽ.
    Tốt vì hào 2 trung, chính, lại vẫn thuận theo (vì là hào âm) phép tắc.
    "dụng chửng mã tráng" R. Wilhelm giảng là : sẽ dùng sức con ngựa mạnh mà giúp đỡ người khác khỏi cơn nguy, J. Legge dịch là: tự cứu mình bằng sức một con ngựa mạnh. Chúng tôi theo Chu Hi và Phan Bội Châu.

    3. Cửu Tam (Hào 3 dương):

    Lời kinh: 九 三: 明夷, 于南狩, 得其大首, 不可疾, 貞.

    Dịch âm: Minh di, vu nam thú, đắc kì đại thủ, bất khả tật, trinh.

    Dịch nghĩa: Ở thời ánh sáng bị tổn hại, đi tuần về phương Nam, bắt được kẻ đầu sỏ, nhưng đừng hành động gấp, phải bền chí.

    Giảng nghĩa: Hào này ở trên cùng nội quái Ly là cực sáng suốt; nó là dương cương , ở vị dương, vậy là rất cương kiện, nó ứng với hào âm ở trên cùng quẻ Khôn (ngoại quái), hào này cực hôn ám. Nó sẽ đánh đổ hào âm đó. Nó cứ đem binh đi tuần về phương Nam (Nam thú: Phan Bội Châu giảng là đem quân tiến lên phía trước để trừ loạn) sẽ bắt được tên đầu sỏ phản loạn. Nhưng nó cương cường nóng nảy, nên phải khuyên: đừng gấp, phải bền chí giữ đạo chính.

    4. Lục Tứ (Hào 4 âm):

    Lời kinh: 六 四: 入于左腹, 獲明夷之心, 于出門庭.

    Dịch âm: Nhập vu tả phúc, hoạch minh di chi tâm, vu xuất môn đình.

    Dịch nghĩa: Như vô phía bên trái của bụng (ý nói chỗ u ám); tấm lòng ở thời u ám (minh di) là nên bỏ nhà mà ra đi.

    Giảng nghĩa: Hào này âm nhu, ở vào thời Minh di, mà lại vượt quẻ Ly, sang quẻ Khôn rồi, tức bỏ chỗ sáng sủa, bước vào chỗ tối tăm, cho nên ví như vô phía bên trái của bụng. Nhưng hào này đắc chính (âm ở vị âm) nên có thể rút chân ra khỏi cảnh khốn nạn ấy được: cứ bỏ nhà ra đi, tức tránh cho xa cảnh đó, mặc nó.
    Đó là hiểu theo Phan Bội Châu. Chu Hi nhận rằng không thấy được nghĩa hào này.

    5. Lục Ngũ (Hào 5 âm):

    Lời kinh: 六 五: 箕子之明夷, 利貞.

    Dịch âm: Cơ tử chi Minh di, lợi trinh.

    Dịch nghĩa: Như ông Cơ Tử ở thời u ám (Minh di), cứ bền giữ đạo chính thì lợi.

    Giảng nghĩa: Thường các quẻ khác, hào 5 là ngôi chí tôn, quẻ Minh di này hào trên cùng mới là ngôi chí tôn, hào 5 là người thân cận với ngôi chí tôn. Hào trên cùng là ông vua rất hôn ám như vua Trụ, hào 5 là người thân cận có đức trung, như ông Cơ Tử; ông giả điên để khỏi bị Trụ hại mà sau giữ được dòng dõi nhà Ân, như vậy là giữ vững đạo chính, ở ngoài làm ra vẻ hôn mê, mà trong lòng vẫn sáng suốt.

    6. Thượng Lục (Hào 6 âm):

    Lời kinh: 上 六: 不明晦, 初登于天, 後入于地.

    Dịch âm: Bất minh di, sơ đăng vu thiên, hậu nhập vu địa.

    Dịch nghĩa: Không còn là ánh sáng bị tổn thương nữa, lên cao tới trời mà rồi sụp xuống đất.

    Giảng nghĩa: Hào trên cùng, âm; ở cuối cùng thời Minh di, lại ở trên cùng ngoại quái Khôn, tức như người có địa vị tối cao mà lại hôn ám cùng cực; như vậy là tối mù mù, chứ không phải chỉ là ánh sáng bị tổn hại (Minh di), nữa, cho nên Hào từ bảo là "bất minh di". Có cái tượng lên cao tới trời (địa vị tối cao) mà rồi sụp xuống đất.

    2. Quẻ Địa Hỏa Minh Di trong thuật chiêm bốc, đoán quẻ

    Ý nghĩa quẻ Minh Di

    Trong chiêm bốc, dự trắc Minh Di có nghĩa là:

    • Minh di là sự cực bĩ). Xuất thương tổn. Thương tổ n, thiệt hại đau đớn (thời hành: gặp tai nạn. Xin việc: có sự thương tổn.
    • Minh di là tối tăm, ánh sáng bị che lấp (Ngược lại với quẻ Tấn). Kiện cáo: bị thế lực nào đó che lấp hết.
    • Là tù ngục, giam hãm, hình phạt, gông cùm (Tù hình sự thường: trộm cắp ...) Quẻ có tượng của cửa sổ, song sắt nhà tù. (Bản mệnh Minh di: giống cách Liêm Tham Tị hợi, thông minh, trẻ hay bị cô giáo ghét vì nghịch trong lớp mặt tỉnh bơ: ánh sáng bị che khuất)
    • Minh di là diệt, tiêu diệt, di dập (như di dưới chân), trù úm, là dùng nhưng không dụng.
    • Minh di là đội nạn lớn. (Nữ nhỏ lệ, nam tội nạn lớn, đời sống thì tối tăm, tù ngục thương tổn).
    • Minh di là thuỳ châu nhỏ lệ (theo "Bạch thư chu dịch"), là tượng người Phụ nữ khóc tại mộ chí. Nước mắt ướt đất.

    Triệu và điềm của quẻ Minh Di

    Quẻ Minh Di có triệu Quá Giang Chiết Kiều - Vô cùng khó khăn. Có bài thơ như sau:

    Qua sông phá cầu, việc không thông,
    Giao dịch xuất hành, chỉ uổng công.
    Cầu tài cầu lộc, đều không được,
    Hôn nhân góp vốn, phải về không.

    Tích xưa: Ngày xưa, Tào Tháo đánh Lưu Bị đã gieo phải quẻ này. Quả nhiên, quân Tào đuổi đến Tương Dương, gặp cầu Tràng Bản. Trương Phi đứng trên cầu, đằng sau bụi bốc mù mịt. Tào Tháo tưởng quân địch mai phục. Trương Phi hét to, quân Tào bỏ chạy. Sau đó, ông ta phá cầu không cho quân Tào sang sông. Đúng là ứng với quẻ "qua sông phá cầu", thật là "vô cùng khó khăn".

    Lời bàn quẻ: Qua sông phá cầu là việc bất nghĩa. Thấy việc bất nghĩa là hung.

    Lời đoán quẻ: Xuất hành bất lợi, cãi cọ liên miên, mọi sự bất ổn, cầu tài không được, hôn nhân khó khăn.

    Dụng thần quẻ Minh Di

    Quẻ Minh Di so với khảm, quẻ thiếu hào Thê Tài. mậu ngọ, Hỏa, nghĩa là đây là Phục Thần của Minh Di, núp sau Kỷ hợi Huynh Đệ Thủy - là Phi Thần. Quan hệ này tương khắc, nên Phục Thần tuyệt ở Phi Thần.


    3. Ý nghĩa cho từng sự việc

    • Tình thế hiện tại: Giai đoạn gặp khó khăn, cần giữ bình tĩnh và tránh đối đầu
    • Tương lai: Thành công sẽ đến nếu kiên nhẫn và chờ đợi thời cơ
    • Sự nghiệp: Có thể gặp trở ngại, nhưng sẽ ổn định nếu không nản lòng
    • Học tập: Tiến bộ chậm, cần kiên trì và điều chỉnh phương pháp học
    • Tài sản: Dễ gặp biến động, cần quản lý thận trọng và không đầu tư mạo hiểm
    • Tình duyên: Mối quan hệ có thể bị thử thách, nhưng sẽ gắn kết hơn nếu biết cảm thông
    • Tử tức: Con cái cần được định hướng và động viên để vượt qua khó khăn
    • Sức khỏe: Cần chú trọng nghỉ ngơi và giữ tinh thần lạc quan
    • Xuất hành: Không thuận lợi, nên chờ đợi thời gian thích hợp hơn
    • Tranh chấp: Có thể hóa giải nếu giữ được thái độ ôn hòa
    • Mồ mả: Có thể cần điều chỉnh để tránh bất lợi
    • Nhà cửa: Không thích hợp để sửa chữa hoặc xây dựng trong thời gian này
    • Mất của: Khó tìm lại được, cần cẩn trọng hơn
    • Giấy tờ: Có thể gặp trục trặc, cần xử lý cẩn thận và chậm rãi

    Số thứ tự Ký hiệu Tiếng Trung Tên tiếng Việt Nhị phân
    36 Ming Yi Minh Di 000101

     

    Trong hệ thống học thuật phương Đông, Kinh Dịch là nền tảng của mọi môn học về thiên – địa – nhân. Bằng ngôn ngữ tượng quẻ và nguyên lý âm dương, Kinh Dịch giúp con người hiểu được quy luật vận hành của vũ trụ, từ đó ứng dụng vào đời sống, phong thủy, nhân sự và dự đoán tương lai.

    Bảng Tra Quẻ Kinh Dịch là công cụ giúp bạn xác định quẻ chủ – quẻ hỗ – quẻ biến một cách nhanh chóng và chính xác, dựa trên sự kết hợp giữa tám quẻ Tiên Thiên và tám quẻ Hậu Thiên. Đây là nền tảng quan trọng khi luận đoán phong thủy nhà ở, xem hướng, chọn ngày hay hóa giải vận khí theo Đạo Dịch.

    Trần Khương Fengshui Tam Gia

    Cấu trúc của Bảng Tra Quẻ

    Bảng tra gồm 8 quẻ Tiên Thiên (hàng ngang) và 8 quẻ Hậu Thiên (hàng dọc), khi giao nhau sẽ tạo thành 64 quẻ chủ – tượng trưng cho 64 trạng thái biến hóa của vũ trụ.

    Hệ thống quẻ Tiên Thiên Hệ thống quẻ Hậu Thiên
    Càn – Thiên ☰ Càn – Thiên ☰
    Đoài – Trạch ☱ Đoài – Trạch ☱
    Ly – Hỏa ☲ Ly – Hỏa ☲
    Chấn – Lôi ☳ Chấn – Lôi ☳
    Tốn – Phong ☴ Tốn – Phong ☴
    Khảm – Thủy ☵ Khảm – Thủy ☵
    Cấn – Sơn ☶ Cấn – Sơn ☶
    Khôn – Địa ☷ Khôn – Địa ☷

    Mỗi cặp Tiên – Hậu giao nhau sinh ra một quẻ Dịch mang ý nghĩa riêng biệt: ví dụ

    • Càn – Thiên / Càn – Thiên → Thuần Càn (1.1): biểu trưng cho khí dương thuần túy, khởi đầu sáng tạo.
    • Khôn – Địa / Khôn – Địa → Thuần Khôn (8.8): biểu trưng cho đất, đức nhu thuận, bao dung.
    • Ly – Hỏa / Khảm – Thủy → Ký Tế (6.3): tượng nước – lửa giao hòa, vạn vật hoàn thành.

    Ý Nghĩa Ứng Dụng Trong Phong Thủy

    Trong phong thủy, mỗi quẻ đều tương ứng với một trạng thái năng lượng, biểu hiện sự cát – hung của vận khí. Khi luận quẻ theo bảng tra, Trần Khương thường kết hợp cùng:

    • Hướng nhà – mệnh trạch (Bát trạch minh cảnh)
    • Thời vận – hành niên (Đại vận, tiểu vận)
    • Quẻ biến – hào động (Phân tích sâu vận động nội tại)

    Từ đó, chuyển hóa năng lượng không thuận, kích hoạt tài khí – nhân khí, giúp gia chủ đạt cân bằng âm dương và an hòa trường cửu.

    Cách Sử Dụng Bảng Tra Quẻ

    Để tra được quẻ, bạn chỉ cần xác định quẻ ngoại (Tiên Thiên) và quẻ nội (Hậu Thiên) Ví dụ:

    • Ngoại quái: Tốn (Phong)
    • Nội quái: Khảm (Thủy)

    → Tra bảng, ta được quẻ Hoán (5.6) – tượng gió thổi trên nước, ý nghĩa là phân tán, giải tỏa, chuyển hóa nghịch cảnh.

    Cách này giúp bạn nhanh chóng xác định được ý nghĩa tượng quẻ chủ đạo để luận giải vận khí.

    Giá Trị Của Bảng Tra Quẻ Kinh Dịch Trong Đời Sống Hiện Đại

    Dù trải qua hàng nghìn năm, Kinh Dịch vẫn giữ nguyên giá trị ứng dụng. Bảng tra quẻ ngày nay không chỉ dùng trong phong thủy, xem hướng, chọn ngày, mà còn được các chuyên gia Trần Khương vận dụng trong:

    • Tư vấn chiến lược kinh doanh (theo vận khí thời vận)
    • Cân bằng năng lượng nhà ở – văn phòng
    • Tư duy biến dịch trong quản trị và phát triển bản thân

    Khi hiểu quẻ, bạn hiểu chính mình – hiểu mối quan hệ giữa bản thân và hoàn cảnh, giữa con người và tự nhiên.

    Bảng Tra Quẻ Kinh Dịch không chỉ là công cụ tra cứu, mà còn là cánh cửa dẫn đến trí tuệ của vũ trụ. Dưới sự hướng dẫn của Phong Thủy Trần Khương, mỗi quẻ không còn là ký hiệu cổ xưa, mà trở thành ngôn ngữ sống, giúp bạn đọc thấu hiểu thiên đạo – hành thuận nhân đạo – dưỡng vững tâm đạo.

    1-CÀN

    1-CÀN

    2-KHÔN

    2-KHÔN

    3-TRUÂN

    3-TRUÂN

    4-MÔNG

    4-MÔNG

    5-NHU

    5-NHU

    6-TỤNG

    6-TỤNG

    7-SƯ

    7-SƯ

    8-TỶ

    8-TỶ

    9-T.SÚC

    9-T.SÚC

    10-LÝ

    10-LÝ

    11-THÁI

    11-THÁI

    12-BĨ

    12-BĨ

    13-Đ.NHÂN

    13-Đ.NHÂN

    14-Đ.HỮU

    14-Đ.HỮU

    15-KHIÊM

    15-KHIÊM

    16-DỰ

    16-DỰ

    17-TÙY

    17-TÙY

    18-CỔ

    18-CỔ

    19-LÂM

    19-LÂM

    20 QUÁN

    20 QUÁN

    21-P.HẠP

    21-P.HẠP

    22-BÍ

    22-BÍ

    23-BÁC

    23-BÁC

    24-PHỤC

    24-PHỤC

    25-V.VỌNG

    25-V.VỌNG

    26-Đ.SÚC

    26-Đ.SÚC

    27-DI

    27-DI

    28-Đ.QUÁ

    28-Đ.QUÁ

    29-KHẢM

    29-KHẢM

    30-LY

    30-LY

    31-HÀM

    31-HÀM

    32-HẰNG

    32-HẰNG

    33-ĐỘN

    33-ĐỘN

    34-TRÁNG

    34-TRÁNG

    35-TẤN

    35-TẤN

    36-M.DI

    36-M.DI

    37-G.NHÂN

    37-G.NHÂN

    38-KHUÊ

    38-KHUÊ

    39-KIỂN

    39-KIỂN

    40-GIẢI

    40-GIẢI

    41-TỔN

    41-TỔN

    42-ÍCH

    42-ÍCH

    43-QUẢI

    43-QUẢI

    44-CẤU

    44-CẤU

    45-TỤY

    45-TỤY

    46-THĂNG

    46-THĂNG

    47-KHỐN

    47-KHỐN

    48-TỈNH

    48-TỈNH

    49-CÁCH

    49-CÁCH

    50-ĐỈNH

    50-ĐỈNH

    51-CHẤN

    51-CHẤN

    52-CẤN

    52-CẤN

    53-TIỆM

    53-TIỆM

    54-Q.MUỘI

    54-Q.MUỘI

    55-PHONG

    55-PHONG

    56-LỮ

    56-LỮ

    57-TỐN

    57-TỐN

    58-ĐOÀI

    58-ĐOÀI

    59-HOÁN

    59-HOÁN

    60-TIẾT

    60-TIẾT

    61-TR.PHU

    61-TR.PHU

    62-T.QUÁ

    62-T.QUÁ

    63-KÝ TẾ

    63-KÝ TẾ

    64-VỊ TẾ

    64-VỊ TẾ

    0
    Hotline