28-Đ.QUÁ

Ứng dụng

28-Đ.QUÁ

Admin - 28/11/2025 09:37 PM

    Quẻ Kinh Dịch: TRẠCH PHONG ĐẠI QUÁ

    Bạn đang xem Bảng Quẻ Dịch TRẠCH PHONG ĐẠI QUÁ (28) chuyên sâu từ Phong Thuỷ Trần Khương, bao gồm dữ liệu về Lục Thân, hình thái Âm Dương, Địa Chi mỗi Hào, Ý nghĩa rút gọn của Quẻ TRẠCH PHONG ĐẠI QUÁĐại quá là quá mức, lỗi lớn. Quẻ thuộc Họ Chấn - Ngũ Hành Mộc.

    Tên quẻ Hào Âm Dương Hình quẻ Lục thân Địa chi

    TRẠCH PHONG ĐẠI QUÁ

    28

    6 Âm Hình quẻ Thê Tài Mùi (Thổ)
    5 Dương Hình quẻ Quan Quỷ Dậu (Kim)
    4 Dương Hình quẻ Phụ Mẫu - THẾ Hợi (Thủy)
    3 Dương Hình quẻ Quan Quỷ Dậu (Kim)
    2 Dương Hình quẻ Phụ Mẫu Hợi (Thủy)
    1 Âm Hình quẻ Thê Tài - ỨNG Sửu (Thổ)
    Ý nghĩa quẻ: Đại quá là quá mức, lỗi lớn.

    → Quay lại Bảng: Tổng Hợp 64 Quẻ Dịch

    QUẺ SỐ 28: TRẠCH PHONG ĐẠI QUÁ - DẠ MỘNG KIM NGÂN

    1. Quẻ Trạch Phong Đại Quá trong Kinh Dịch

    Tổng quan quẻ Trạch Phong Đại Quá

    Quẻ Trạch Phong Đại Quá

    Quẻ Trạch Phong Đại Quá hay được gọi là Quẻ Đại Quá, là quẻ số 28 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Cát.

    Ngoại quái: ☱ Đoài (兌) - Trạch (澤) tức Đầm - Ngũ hành Kim.

    Nội quái: ☴ Tốn (巽) - Phong (風) tức Gió - Ngũ hành Mộc.

    Thuộc nhóm tượng quái Chấn (Quẻ Du Hồn), Ngũ hành Mộc.

    Quẻ Đại Quá có bốn hào dương bị vây hãm bởi hai hào âm thể hiện ý nghĩa dù có bề thế, to lớn nhưng cái gốc và cái ngọn bị yếu. Quẻ khiêm nhường, hòa duyệt có âm nhu, thiên về mềm mỏng nên đôi khi thiếu nghị lực, dễ bị tiểu nhân gây rối loạn.

    Thoán từ:

    Lời kinh: 大過, 棟撓, 利有攸往, 亨.

    Dịch âm: Đại quá, đống nạo, lợi hữu du vãng, hanh.

    Dịch nghĩa: (Phần dương ) nhiều quá (phần âm ít quá) như cái cột yếu, cong xuống (chống không nổi). Trên di thì lợi, được hanh thông.

    Đại Quá: Họa dã. Cả quá. Cả quá ắt tai họa, quá mực thường, quá nhiều, giàu cương nghị ở trong. Nộn thảo kinh sương chi tượng: tượng cỏ non bị sương tuyết.
    Tự quái truyện giảng rất mù mờ, “Di là nuôi, không nuôi thì không thể động (bất dưỡng tức bất động) (?) cho nên sau quẻ Di đến quẻ Đại quá (lớn quá) “Phan Bội Châu giảng: “Có nuôi rồi sau mới có việc lớn quá”
    Chúng tôi nghĩ có thể giảng: Có bồi dưỡng tài đức thì sau mới làm được việc lớn quá (rất lớn), phi thường.
    Chữ “đại quá” có hai cách hiểu: Phần dương trong quẻ tới 4 (phần âm chỉ có hai) mà dương có nghĩa là lớn (âm là nhỏ); vậy đại quá có nghĩa là phần dương nhiều quá; - nghĩa nữa là (đạo đức công nghiệp) lớn quá.

    Tượng quẻ:

    Trạch diệt mộc (Nước đầm làm chết cây)

    Ngoại quái Đoài, nội quái Tốn có bốn hào Dương, hai hào Âm ở trên cùng và dưới cùng của quẻ. Tượng quẻ được ví giống như cây cột đầu đuôi yếu nên dễ bị đổ. Tuy nhiên quẻ này quân vẫn thịnh còn tiểu nhân yếu.

    Nhìn hình của quẻ, bốn hào dương ở giữa, 2 hào âm hai đầu, như cây cột, khúc giữa lớn quá, ngọn và chân nhỏ quá, chống không nổi, phải cong đi.
    Tuy vậy, hai hào dương 2 và 5 đều đắc trung, thế là cương mà vẫn trung; lại thêm quẻ Tốn ở dưới có nghĩa là thuận, quẻ Đoài ở trên có nghĩa là hòa, vui, thế là hòa thuận, vui vẻ làm việc, cho nên bảo là tiến đi (hành động) thì được hanh thông.
    Đại tượng truyện bàn rộng: Đoài là chằm ở trên, Tốn là cây ở dưới, có nghĩa nước lớn quá, ngập cây. Người quân tử trong quẻ này phải có đức độ, hành vi hơn người, cứ việc gì hợp đạo thì làm, dù một mình đứng riêng, trái với thiên hạ, cũng không sợ (độc lập bất cụ); nếu là việc không hợp đạo thì không thèm làm, dù phải trốn đời, cũng không buồn (độn thế vô muộn).

    Các hào trong quẻ:

    1. Sơ Lục (Hào 1 âm):

    Lời kinh: 初 六: 藉用白茅, 无咎.

    Dịch âm: Tạ dụng bạch mao, vô Cửu.

    Dịch nghĩa: Lót (vật gì) bằng cây cỏ mao trắng, không có lỗi.

    Giảng nghĩa: Hào sơ âm cẩn trọng nên không mắc lỗi.Cỏ mao mềm mại, màu trắng giản dị, chiếu dùng quỳ lạy quỉ thần.

    2. Cửu Nhị (Hào 2 dương):

    Lời kinh: 九 二: 枯楊生稊, 老夫得其女妻, 无不利.

    Dịch âm: Khô dương sinh đề, lão phu đắc kì nữ thê, vô bất lợi.

    Dịch nghĩa: Cây dương khô đâm rễ mới, đàn ông già cưới được vợ trẻ, không gì là không lợi.

    Giảng nghĩa: Dương cương mà ở vị âm (hào 2), như vậy là cương mà có chút nhu, lại đắc trung. Nó thân cận với hào 1 âm, thế là cương nhu tương tế, bớt cứng đi, như cây khô mà đâm rễ mới, rồi cành là sẽ tươi tốt. Có thể ví với một người già cưới được vợ trẻ. . .

    3. Cửu Tam (Hào 3 dương):

    Lời kinh: 九 三: 棟橈, 凶.

    Dịch âm: Đống nạo, hung.

    Dịch nghĩa: Cái cột cong xuống, xấu.

    Giảng nghĩa: Hào 3 dương ở vị dương, thế là quá cương, định làm công việc lớn quá (thời Đại quá), quá cương thì cong xuống, gẫy, việc sẽ hỏng.
    Chúng ta để ý: Thoán từ nói về nghĩa toàn quẻ, nên dùng hai chữ "đống nạo" mà vẫn khen là tốt (lí do đã giảng ở trên). Còn Hào từ xét riêng ý nghĩa hào 3, chê là xấu, vì hào này quá cương, mặc dầu ứng với hào trên cùng (âm nhu), cũng không chịu để hào đó giúp mình.

    4. Cửu Tứ (Hào 4 dương):

    Lời kinh: 九 四: 棟隆, 吉.有它, 吝.

    Dịch âm: Đống long, cát. Hữu tha, lận.

    Dịch nghĩa: Như cây cột lớn, vững , tốt. Nếu có ý nghĩa gì khác thì hối tiếc.

    Giảng nghĩa: Cũng là hào dương nhưng ở vị âm (4), vừa cương vừa nhu, như cái cột lớn vững đỡ nổi nhà. Ý nói làm được việc lớn, không lo thất bại.
    Nó lại ứng hợp với hào 1 âm, tiểu nhân ở dưới, như vậy e nó quá nhu chăng, cho nên Hào từ khuyên: chớ quyến luyến quá với 1, có ý nghĩ khác, mà đáng xấu đấy.

    5. Cửu Ngũ (Hào 5 dương):

    Lời kinh: 九 五: 枯楊生華, 老婦得其士夫, 无咎, 无譽.

    Dịch âm: Khô dương sinh hoa, lão phụ đắc kì sĩ phu, vô Cửu, vô dự.

    Dịch nghĩa: Cây dương khô ra hoa, bà già có chồng trai tráng, không chê cũng không khen.

    Giảng nghĩa: Hào 5, dương cương, trung chính. Ở ngôi chí tôn, đáng lẽ làm được việc rất lớn, nhưng ở thời đại quá, thì quá cương, quá cương mà ở gần hào trên cùng, âm ở âm vị, là một người quá nhu, không giúp nhau được việc gì, cũng như cây dương đã khô mà ra hoa cuối mùa, sắp tiều tụy đến nơi rồi. Không khác gì bà già mà có chồng trai tráng, chẳng mong gì sinh đẻ nữa.
    Hào này khác với hào 2 ở chỗ hào 2 vừa cương vừa nhu, nên tốt, ví với cây dương khô đâm rễ mới; hào 5 thì quá cương, xấu, ví với cây dương khô, không dâm rễ mà ra hoa, nhựa sắp kiệt rồi.

    6. Thượng Lục (Hào 6 âm):

    Lời kinh: 上 六: 過涉, 滅頂, 凶, 无咎.

    Dịch âm: Quá thiệp, diệt đính, hung, vô Cửu.

    Dịch nghĩa: Lội qua chỗ nước sâu, nước ngập đầu, xấu: nhưng không có lỗi.

    Giảng nghĩa: Bản chất âm nhu, tài hèn mà ở vào cuối thời Đại quá muốn làm việc lớn thì rất nguy thân, như người lội chỗ nước sâu lút đầu. Nhưng làm công việc nguy hiểm đó để cứu đời, cho nên không gọi là có lỗi được. Hào này trỏ hạng người "sát thân di thành nhân" (tự hi sinh để làm nên điều nhân), đáng phục chớ không chê được.
    Tên quẻ là Đại quá (lớn quá), mà Hào từ lại ghét những người quá cương, (hào 3, 5) quá nhu như hào trên cùng tuy không có lỗi, nhưng cũng cho là xấu. Vây Kinh Dịch có ý trọng đức trung (vừa cương vừa nhu) hơn cả.

    2. Quẻ Trạch Phong Đại Quá trong thuật chiêm bốc, đoán quẻ

    Ý nghĩa quẻ Đại Quá

    Trong chiêm bốc, dự trắc Đại Quá có nghĩa là:

    • Là hoạ, tai hoạ, hoạ hại.
    • Là hư hao, gian nan quá mức. (Ví dụ đi quá nơi cần đến, hao phí sức lực).
    • Là quá lớn, "cái lớn quá sự thường hay sự thường thành quá lớn" (Việc lớn quá sự thường: là chỉ những việc đại sự. Gặp việc đại sự, biết ứng xử theo đại sự, theo đạo của người quân tử ắt thành công, việc lớn ứng theo kiểu tiểu nhân ắt g ặp họa.. Ngược lại sự th ường là những việc nhỏ nhặt, tiểu sự. Việc nhỏ, tiểu sự thì chỉ cần Ti ểu quá - quá nhỏ, vậy mà ứng theo đại quá là sự thường thành quá lớn ắt gặp hoạ). Đại quá việc lớn thì hanh thông mà việc nhỏ thì hữu hung. Đại quá là "cái lớn quá thường" mà Tiểu quá là "cái nhỏ quá thường".
    • Sự nhầm lớn, là cả quá, là sự nhầm lớn vượt quá đạo lý thông thường.
    • Làm đi làm lại (đi quá thì phải quay lại).
    • Tượng của khoa phong thuỷ địa lý.

    Triệu và điềm của quẻ Đại Quá

    Quẻ Đại Quá có triệu Dạ Mộng Kim Ngân - Không vẫn hoàn không. Có bài thơ như sau:

    Mơ thấy kim tiền, tỉnh dậy không,
    Cầu danh cầu lợi, chẳng thấy thông.
    Hôn nhân giao dịch, đều không được,
    Của mất người đi, vẫn biệt tăm.

    Tích xưa: Ngày xưa, Tào Tháo tìm mọi mưu kế để được Từ Thứ, đã gieo được quẻ này. Quả nhiên Từ Thứ vào dinh Tào, không chịu bày mưu mẹo gì. Đúng là ứng với quẻ "Dạ mộng kim tiền" thật là "Không vẫn hoàn không".

    Lời bàn quẻ: Phương ngôn có câu: "Tốt quá hoá lốp". Việc gì quá đều có hại. Lượng đổi đến mức nào đó sẽ phá vỡ kết cấu nội tại của sự vật hiện tượng. Vì vậy, mọi việc đều làm có chừng mực thì mới thành công.

    Lời đoán quẻ: Làm việc bất thành, cầu tài không được, hôn nhân không thành. Mọi sự bất thành, phải nhẫn nại, chớ có mơ mộng.

    Dụng thần quẻ Đại Quá

    Quẻ Đại Quá là quẻ thứ 7 của tượng Chấn nên gọi là quẻ Du Hồn. So với Chấn, quẻ thiếu hai Thân là: Huynh Đệ Canh Dần Mộc và Canh Ngọ Tử Tôn Hỏa. Đây chính là hai Phục Thần của Quá. Tương ứng với hai hào này là hai Phi Thần: Phụ Mẫu Tân Hợi và Phụ Mẫu Đinh Hợi đều thuộc Thủy.
    Xét về hào nhị, Phi Thần Tân Hợi sinh Phục Thần Canh Dần. Mộc trường sinh tại Hợi, là Phi sinh Phục lại được trường sinh. Hào Phục không những được xuất hiện mà còn được tiếp sức thêm.
    Xét về hào tứ, Phi Thủy khắc Phục Hỏa. Do vậy Canh Ngọ Phục lâm vào thế tuyệt địa ở Phi hào, không những không được xuất hiện mà bị tiêu diệt. Trường hợp này phải chờ đến ngày Dần gặp trường sinh (Hỏa), hoặc ngày ngọ gặp Nhật thần, hoặc có hào động Sinh hào này (hào Phục) thì Phục mới xuất hiện được.
    Đặc biệt trong quẻ này, Phục Thần Huynh Đệ canh Dần Mộc sinh hào Tử Tôn Canh ngọ Hỏa cũng Phục hào (vi ở vị trí Phi Thần là hào Thế). Vậy Phục Huynh Đệ là Nguyên Thần của Phục Tử Tôn, tức Tử Tôn vô lực. Tử Tôn mà lại gặp không vong, Nguyệt Phá thì rơi vào trạng thái "chân không" hay "Chân phá".


    3. Ý nghĩa cho từng sự việc

    • Tình thế hiện tại: Giai đoạn đầy áp lực, cần giữ vững tinh thần và tìm cách vượt qua
    • Tương lai: Thành công sẽ đến nếu biết chịu đựng và tìm sự hỗ trợ khi cần
    • Sự nghiệp: Có thể gặp khó khăn, nhưng sẽ ổn định nếu không nản lòng
    • Học tập: Tiến bộ chậm, cần kiên trì và tập trung hơn
    • Tài sản: Dễ gặp biến động, cần quản lý chặt chẽ và thận trọng trong đầu tư
    • Tình duyên: Mối quan hệ có thể gặp thử thách, nhưng sẽ bền chặt hơn sau khi vượt qua
    • Tử tức: Con cái cần được động viên để đối mặt với khó khăn
    • Sức khỏe: Cần chú trọng nghỉ ngơi để tránh ảnh hưởng bởi áp lực
    • Xuất hành: Không thuận lợi, nên cân nhắc trước khi đi xa
    • Tranh chấp: Khó giải quyết, cần giữ thái độ ôn hòa và nhẫn nại
    • Mồ mả: Có thể cần kiểm tra để đảm bảo không gặp vấn đề
    • Nhà cửa: Không thích hợp để xây dựng hoặc sửa chữa lớn
    • Mất của: Khó tìm lại được, cần cẩn trọng hơn trong tương lai
    • Giấy tờ: Có thể gặp trở ngại, cần xử lý kỹ lưỡng và cẩn thận

    Số thứ tự Ký hiệu Tiếng Trung Tên tiếng Việt Nhị phân
    28 Da Guo Đại Quá 011110

    Trong hệ thống học thuật phương Đông, Kinh Dịch là nền tảng của mọi môn học về thiên – địa – nhân. Bằng ngôn ngữ tượng quẻ và nguyên lý âm dương, Kinh Dịch giúp con người hiểu được quy luật vận hành của vũ trụ, từ đó ứng dụng vào đời sống, phong thủy, nhân sự và dự đoán tương lai.

    Bảng Tra Quẻ Kinh Dịch là công cụ giúp bạn xác định quẻ chủ – quẻ hỗ – quẻ biến một cách nhanh chóng và chính xác, dựa trên sự kết hợp giữa tám quẻ Tiên Thiên và tám quẻ Hậu Thiên. Đây là nền tảng quan trọng khi luận đoán phong thủy nhà ở, xem hướng, chọn ngày hay hóa giải vận khí theo Đạo Dịch.

    Trần Khương Fengshui Tam Gia

    Cấu trúc của Bảng Tra Quẻ

    Bảng tra gồm 8 quẻ Tiên Thiên (hàng ngang) và 8 quẻ Hậu Thiên (hàng dọc), khi giao nhau sẽ tạo thành 64 quẻ chủ – tượng trưng cho 64 trạng thái biến hóa của vũ trụ.

    Hệ thống quẻ Tiên Thiên Hệ thống quẻ Hậu Thiên
    Càn – Thiên ☰ Càn – Thiên ☰
    Đoài – Trạch ☱ Đoài – Trạch ☱
    Ly – Hỏa ☲ Ly – Hỏa ☲
    Chấn – Lôi ☳ Chấn – Lôi ☳
    Tốn – Phong ☴ Tốn – Phong ☴
    Khảm – Thủy ☵ Khảm – Thủy ☵
    Cấn – Sơn ☶ Cấn – Sơn ☶
    Khôn – Địa ☷ Khôn – Địa ☷

    Mỗi cặp Tiên – Hậu giao nhau sinh ra một quẻ Dịch mang ý nghĩa riêng biệt: ví dụ

    • Càn – Thiên / Càn – Thiên → Thuần Càn (1.1): biểu trưng cho khí dương thuần túy, khởi đầu sáng tạo.
    • Khôn – Địa / Khôn – Địa → Thuần Khôn (8.8): biểu trưng cho đất, đức nhu thuận, bao dung.
    • Ly – Hỏa / Khảm – Thủy → Ký Tế (6.3): tượng nước – lửa giao hòa, vạn vật hoàn thành.

    Ý Nghĩa Ứng Dụng Trong Phong Thủy

    Trong phong thủy, mỗi quẻ đều tương ứng với một trạng thái năng lượng, biểu hiện sự cát – hung của vận khí. Khi luận quẻ theo bảng tra, Trần Khương thường kết hợp cùng:

    • Hướng nhà – mệnh trạch (Bát trạch minh cảnh)
    • Thời vận – hành niên (Đại vận, tiểu vận)
    • Quẻ biến – hào động (Phân tích sâu vận động nội tại)

    Từ đó, chuyển hóa năng lượng không thuận, kích hoạt tài khí – nhân khí, giúp gia chủ đạt cân bằng âm dương và an hòa trường cửu.

    Cách Sử Dụng Bảng Tra Quẻ

    Để tra được quẻ, bạn chỉ cần xác định quẻ ngoại (Tiên Thiên) và quẻ nội (Hậu Thiên) Ví dụ:

    • Ngoại quái: Tốn (Phong)
    • Nội quái: Khảm (Thủy)

    → Tra bảng, ta được quẻ Hoán (5.6) – tượng gió thổi trên nước, ý nghĩa là phân tán, giải tỏa, chuyển hóa nghịch cảnh.

    Cách này giúp bạn nhanh chóng xác định được ý nghĩa tượng quẻ chủ đạo để luận giải vận khí.

    Giá Trị Của Bảng Tra Quẻ Kinh Dịch Trong Đời Sống Hiện Đại

    Dù trải qua hàng nghìn năm, Kinh Dịch vẫn giữ nguyên giá trị ứng dụng. Bảng tra quẻ ngày nay không chỉ dùng trong phong thủy, xem hướng, chọn ngày, mà còn được các chuyên gia Trần Khương vận dụng trong:

    • Tư vấn chiến lược kinh doanh (theo vận khí thời vận)
    • Cân bằng năng lượng nhà ở – văn phòng
    • Tư duy biến dịch trong quản trị và phát triển bản thân

    Khi hiểu quẻ, bạn hiểu chính mình – hiểu mối quan hệ giữa bản thân và hoàn cảnh, giữa con người và tự nhiên.

    Bảng Tra Quẻ Kinh Dịch không chỉ là công cụ tra cứu, mà còn là cánh cửa dẫn đến trí tuệ của vũ trụ. Dưới sự hướng dẫn của Phong Thủy Trần Khương, mỗi quẻ không còn là ký hiệu cổ xưa, mà trở thành ngôn ngữ sống, giúp bạn đọc thấu hiểu thiên đạo – hành thuận nhân đạo – dưỡng vững tâm đạo.

    1-CÀN

    1-CÀN

    2-KHÔN

    2-KHÔN

    3-TRUÂN

    3-TRUÂN

    4-MÔNG

    4-MÔNG

    5-NHU

    5-NHU

    6-TỤNG

    6-TỤNG

    7-SƯ

    7-SƯ

    8-TỶ

    8-TỶ

    9-T.SÚC

    9-T.SÚC

    10-LÝ

    10-LÝ

    11-THÁI

    11-THÁI

    12-BĨ

    12-BĨ

    13-Đ.NHÂN

    13-Đ.NHÂN

    14-Đ.HỮU

    14-Đ.HỮU

    15-KHIÊM

    15-KHIÊM

    16-DỰ

    16-DỰ

    17-TÙY

    17-TÙY

    18-CỔ

    18-CỔ

    19-LÂM

    19-LÂM

    20 QUÁN

    20 QUÁN

    21-P.HẠP

    21-P.HẠP

    22-BÍ

    22-BÍ

    23-BÁC

    23-BÁC

    24-PHỤC

    24-PHỤC

    25-V.VỌNG

    25-V.VỌNG

    26-Đ.SÚC

    26-Đ.SÚC

    27-DI

    27-DI

    28-Đ.QUÁ

    28-Đ.QUÁ

    29-KHẢM

    29-KHẢM

    30-LY

    30-LY

    31-HÀM

    31-HÀM

    32-HẰNG

    32-HẰNG

    33-ĐỘN

    33-ĐỘN

    34-TRÁNG

    34-TRÁNG

    35-TẤN

    35-TẤN

    36-M.DI

    36-M.DI

    37-G.NHÂN

    37-G.NHÂN

    38-KHUÊ

    38-KHUÊ

    39-KIỂN

    39-KIỂN

    40-GIẢI

    40-GIẢI

    41-TỔN

    41-TỔN

    42-ÍCH

    42-ÍCH

    43-QUẢI

    43-QUẢI

    44-CẤU

    44-CẤU

    45-TỤY

    45-TỤY

    46-THĂNG

    46-THĂNG

    47-KHỐN

    47-KHỐN

    48-TỈNH

    48-TỈNH

    49-CÁCH

    49-CÁCH

    50-ĐỈNH

    50-ĐỈNH

    51-CHẤN

    51-CHẤN

    52-CẤN

    52-CẤN

    53-TIỆM

    53-TIỆM

    54-Q.MUỘI

    54-Q.MUỘI

    55-PHONG

    55-PHONG

    56-LỮ

    56-LỮ

    57-TỐN

    57-TỐN

    58-ĐOÀI

    58-ĐOÀI

    59-HOÁN

    59-HOÁN

    60-TIẾT

    60-TIẾT

    61-TR.PHU

    61-TR.PHU

    62-T.QUÁ

    62-T.QUÁ

    63-KÝ TẾ

    63-KÝ TẾ

    64-VỊ TẾ

    64-VỊ TẾ

    0
    Hotline